Truyền thuyết tháp Boudhanath – Chuyện Giác Ngộ của bà nuôi gà

Truyền thuyết tháp Boudhanath – Chuyện Giác Ngộ của bà nuôi gà

Truyền thuyết bảo tháp Boudhanath
Mục Lục

Bảo Tháp Boudhanath tuy nằm ở Nepal nhưng nó lại là một trong những địa điểm hành hương quan trọng bậc nhất của những người theo Phật Giáo Tây Tạng. Bảo Tháp Boudhanath  luôn là nơi nhiều phật tử hành hương về đây hàng năm. Vậy điều gì khiến cho Bảo Tháp Boudhanath Nepal trở nên đặc biệt?

Bảo Tháp Boudhanath nằm ở vùng ngoại ô phía đông bắc, cách trung tâm Kathmandu khoảng 11 km, Bảo Tháp Boudhanath là một Mandala khổng lồ giữa Kathmandu. Điều này khiến cho công trình trở thành một trong những bảo tháp hình cầu lớn nhất ở Nepal

Khám phá thêm về câu chuyện: Bảo tháp Boudhanath Nepal.

Bảo tháp Boudhanath Nepal
Bảo tháp Boudhanath Nepal

Bảo tháp Phật giáo Boudha thống trị đường chân trời; đây là một trong những bảo tháp lớn nhất thế giới. Dòng người tị nạn lớn từ Tây Tạng đã chứng kiến việc xây dựng hơn 50 Gompa quanh Boudha.

Hãy cùng Du lịch có GUU – Fit Tour tìm hiểu về truyền thuyết tháp Boudhanath Nepal nhé!

Huyền thoại từ người đàn bà nuôi gà…

Huyền thoại Đại Bảo Tháp là một truyền thuyết của Tây Tạng, vô cùng quan trọng và là nguồn cảm hứng bất tận.

Khi nghe truyện kể, mỗi người trong chúng ta sẽ thực sự hiểu được Bảo Tháp tượng trưng cho điều gì, quá trình xây dựng bảo tháp, sự linh thiêng của Bảo Tháp qua những lời cầu nguyện được linh ứng, những lợi ích của việc đi nhiễu xung quanh Bảo Tháp, cúng dường, dọn dẹp hay làm sạch Bảo Tháp…

Thực chất, huyền thoại về Đại Bảo Tháp được coi là một Terma – mật tự – văn bản ghi những lời của Đức Liên Hoa Sinh kể ra theo sự thỉnh cầu của vị Vua Tây Tạng Trisondetsen (Tri-sông-đê-xen), sau khi được hoàn tất, mật tự này được vị thiên nữ – Yeshe Tsogyal cất giấu.

Sau này, chúng được một nữ tu sĩ tìm thấy bên trong pho tượng Phật Đại Nhật Như Lai ở tầng trên của chùa Samye Ling. Đó là cách huyền thoại về Bảo Tháp được lưu giữ và tương truyền đến ngày nay.

Du khách khám phá bảo tháp Nepal
Ca sĩ Thuỷ Tiên khám phá bảo tháp Nepal

Câu chuyện được ghi lại trong mật tự

Trong vô số kiếp trước, Đức Bồ Tát Ma-ha-tát Quán Thế Âm lập đại nguyện dưới chân vị thầy của Ngài, Đức Phật A Di Đà, rằng Ngài sẽ giải thoát chúng sinh khỏi sự đau khổ của thế gian này.

Và sau khi đã giải thoát vô số chúng sinh, Ngài lên đứng trên nóc cung Điện Potala, nghĩ rằng chúng sinh tất cả không ngoại trừ đều đã được giải thoát.

Nhưng trông xuống sáu cõi luân hồi, Ngài thấy vẫn còn nhiều chúng sinh đang trôi lăn sinh tử trong các cõi thấp như ruồi trên đống rác.

Nghĩ rằng không thể giải thoát tất cả chúng sinh khỏi biển khổ của thế gian này, Ngài khóc, và dùng ngón trỏ quệt hai giọt nước mắt, Ngài cầu nguyện rằng cả hai giọt nước mắt này cũng có thể giúp đỡ chúng sinh trong tương lai để họ thoát khổ.

Lời cầu nguyện được trở thành sự thật, hai giọt nước mắt biến hóa và đầu thai làm hai người con gái của Vua Trời Đế Thích: nữ thần Purna (Viên Mãn) và Apurna (Không Viên Mãn).

Một lần, Apurna hái trộm mấy bông hoa, vi phạm luật của các vị thần và bị phạt phải tái sinh vào cõi người, ở quận Maguta, xứ Nepal, làm con gái của người nuôi gà Ansu và vợ là Purna. Người con đó tên là Shamvara.

Bảo tháp được Unesco công nhận là di sản văn hoá
Bảo tháp được Unesco công nhận là di sản văn hoá

Lớn lên Shamvara ở cùng với bốn người đàn ông đều thuộc giai cấp hạ tiện, với mỗi người đàn ông bà sinh ra một người con trai.

Người con trai thứ nhất là của người nuôi cừu, người con trai thứ hai là của người nuôi heo, người con trai thứ ba là của người nuôi chó, và người con trai thứ tư là của người nuôi gà.

Nhờ nghề nuôi gà, Shamvara đã dành dụm được nhiều tiền của để nuôi các con tử tế, trở thành những người có học.

Khi đã giàu có, bà nghĩ mình nên giúp đỡ mọi người bằng cách xây một Đại Bảo Tháp, nơi chứa Tâm của chư Phật, nơi chiêm bái cho vô số chúng sinh và là nơi giữ xá lợi của các Đấng Như Lai.

Với mong muốn như vậy, bà đến yết kiến Nhà Vua rồi quỳ xuống, chắp tay cầu xin Nhà Vua cho phép bà cùng các con của mình được xây một Đại Bảo Tháp bằng chính số tiền dành dụm của bản thân.

Nhà Vua nghe xong lời thỉnh cầu, suy nghĩ và chấp thuận, cho phép người đàn bà nuôi gà xây Tháp.

Jarungkhasor, mọi trở ngại đều có thể được khắc phục…

Shamvara cùng với bốn người con trai, một lừa, một voi bắt đầu việc xây dựng Đại Bảo Tháp. Họ mang đất đá tới địa điểm, đổ nền, xây tường lên đến tầng thứ ba. Lúc này dân Nepal kéo tới, họ ganh ghét bởi một người đàn bà nuôi gà thấp hèn lại có thể xây một cái Tháp như vậy.

Họ đến gặp nhà Vua và xin nhà Vua cho ngừng việc xây Tháp, bắt người đàn bà nuôi gà mang đất đá về chỗ cũ. Nhưng Vị Vua vĩ đại coi đây là một công trình tuyệt diệu và vẫn để Shamvara tiếp tục làm công việc xây dựng.

Có nhiều người khác cũng cản trở việc xây tháp, nhưng không thành công. Cũng bởi vậy Đại Bảo Tháp này được gọi là Jarungkhasor, nghĩa là khi đã được phép xây dựng thì mọi trở ngại đều có thể được khắc phục.

Việc xây dựng được tiến hành trong bốn năm, cả mùa hè lẫn mùa đông, cho đến khi Tháp được làm đến phần cổ thì người mẹ qua đời (khi bà trút hơi thở cuối cùng, chiêng trống được đánh lên và các vị thần hóa hiện một cơn mưa những bông hoa, bầu trời xuất hiện ánh sáng cầu vồng.

Ý nghĩa lá cờ của bảo tháp Nepal
Ý nghĩa lá cờ của bảo tháp Nepal

Do công hạnh xây Đại Bảo Tháp, bà đã đắc quả Phật.) và bốn người con trai tiếp tục hoàn thiện nốt phần trên của Bảo tháp theo như di nguyện của người mẹ.

Họ dùng voi và lừa để tải gạch đá tiếp tục công việc trong ba năm nữa, như vậy tổng cộng tất cả là bảy năm để hoàn thiện việc xây dựng. Chính giữa Tháp được đặt một cây Sự Sống – có chứa Xá lợi bất hoại của Cổ Phật Đại Ca Diếp.

Sau khi lễ dâng Tháp đã được tổ chức long trọng với những bông hoa cúng rải khắp nơi, Đức Phật Đại Ca Diếp cùng với các Bồ Tát tháp tùng.

Ngài xuất hiện trên các tầng trời ở trước Đại Bảo Tháp. Vây quanh họ là chư Phật, Bồ Tát mười phương và vô số các La Hán, Ngũ Trí Như Lai, các Thiên Vương ba cõi (Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới), các vị thần hiền hòa cũng như phẫn nộ, đông như hoa mè không thể kể xiết xuất hiện để rải hoa, tôn vinh cho buổi lễ bằng sự hiện diện quý báu của họ.

Chiêng được đánh lên, các vị thần rải một trận mưa hoa, hương thơm tỏa ra khắp nơi. Đất rung chuyển ba lần. Hào quang vô lượng của trí huệ thiêng liêng từ thân của chư Phật làm mờ ánh mặt trời và chiếu sáng ban đêm trong năm ngày liên tiếp.

Bảo tháp Boudhanath là một Mandala khổng lồ
Bảo tháp Boudhanath là một Mandala khổng lồ

Chư Phật hợp nhất và thành tựu mọi ước nguyện….

Trước cảnh sắc diệu kỳ đó, đại tập hội chư Phật và Bồ Tát đồng thanh nói với các thí chủ và tín đồ rằng:

Do tấm lòng thanh tịnh bởi ý nguyện xây Đại Bảo Tháp này, vật chứa Pháp Thân bất khả phân với Tâm của các Đấng Chiến Thắng trong đời quá khứ, hiện tại và vị lai, do việc làm tốt này, bất cứ lời cầu nguyện nào của các người cũng được thành tựu hoàn hảo.

Nghe vậy, bốn người con trai đều phát khởi những nguyện ước lớn. Khi họ cầu nguyện, tất cả các chư Phật mười phương và chư Bồ Tát tan hòa rồi nhập vào trong Đại Bảo Tháp. Từ đó về sau Bảo Tháp được người thế gian gọi là “Chư Phật Hợp Nhất”.

Người con trưởng, con của người chăn cừu, nguyện tái sinh làm vua Bảo Hộ Giáo Pháp ở Tây Tạng, nơi xứ Tuyết, người đó là Vua Trisondetsen. Con của người nuôi heo nguyện tái sinh làm một Sư trưởng, đó là Bồ Tát Tịch Hộ.

Con trai của người nuôi chó cầu nguyện cho mình được tái sinh làm một hành giả Mật giáo, đó là Sư trưởng xứ O-Gien, Đạo sư Liên Hoa Sanh. Con của người nuôi gà nguyện tái sinh làm một viên quan mộ đạo là vua xứ Yarlung hiện tại.

Đại Bảo Tháp- nơi nhận Phật Tâm của các vị Phật quá khứ, hiện tại và vị lai

Sau khi chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai đã thực sự đã thực sự nhập vào Bảo Tháp mãi mãi, Tháp đã trở thành Viên Ngọc Như Ý – bất cứ lời cầu xin hay khấn nguyện nào trước Tháp này, cũng sẽ được ban cho thành tựu tức khắc…

Chúng sinh bất cứ ai là người phàm tục hay chư Thiên, các vị thần với tâm thanh tịnh phục lạy trước Đại Bảo Tháp, nhiễu quanh Tháp và chiêm bái Tháp sẽ đạt lợi ích và phước huệ vô lượng không thể nghĩ bàn, vượt trên cả mọi sự diễn tả.

Tìm hiểu thêm về: Kinh nghiệm du lịch Nepal.

Share This :
Share on facebook
Share on twitter
Share on linkedin
Kinh nghiệm du lịch

Blog

Pháo đài Jakar Dzong ở Bhutan

Pháo đài Jakar Dzong ở Bhutan

Pháo đài Jakar Dzong ở Bhutan là một pháo đài theo phong cách Tây Tạng / Bhutan nhìn ra thị trấn Jakar ở Quận Bumthang. Nằm trên một sườn núi phía trên Thung lũng Chamkhar, pháo đài hiện tại được xây dựng…
Triệu Chứng Và Cách Phòng Tránh Say Độ Cao Khi Du Lịch

Triệu Chứng Và Cách Phòng Tránh Say...

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ hướng dẫn bạn cách nhận biết các trường hợp, triệu chứng và khắc phục các vấn đề say độ cao khi đi Du lịch ở vùng Himalaya cùng FIT TOUR – Du lịch…
Trekking tu viện Tiger's Nest - Biểu tượng của Bhutan

Trekking tu viện Tiger's Nest - Biểu...

Giống như Tháp Eiffel hoặc Tượng Nữ thần Tự do, Tiger’s Nest là một trong những hình ảnh đặc trưng của đất nước Bhutan. Nằm chênh vênh ở độ cao 3.000 mét so với thung lũng Paro, Tu viện Paro Taktsang…
Tạp chí du lịch

Emagazine

Top 11 điều cần biết khi du lịch Ladakh

Top 11 điều cần biết...

Top 11 điều bạn cần biết khi du lịch đến Ladakh. Từ việc say độ cao, khí hậu, thuê xe, tiền tệ, ẩm thực đến việc đi lại, quần áo…
13 điều quan trọng cần biết khi khám phá EVEREST BASE CAMP

13 điều quan trọng cần...

Giới thiệu cung trekking Everest Base Camp (EBC)Điểm xuất phát: Kathandu & sân bay Lukla (Nepal).Điểm kết thúc: Trại Căn Cứ Everest Base CampĐộ cao: 5,364mĐộ khó: Tương đối khó.Dịch…
Hành Trình Bhutan: Hạnh Phúc Thật Giản Đơn - Emegazine

Hành Trình Bhutan: Hạnh Phúc...

Bhutan: Hạnh phúc là giảm nhu cầu xuống và hài lòng với cuộc sống mỗi ngày của mình.Bhutan được mệnh danh là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới và…